Nông dân với hội nhập kinh tế thế giới
29.06.2009 15:55
Tham luận tại Hội thảo "Chúng ta làm gì, nông dân làm gì trong vấn đề Hội nhập", DakLak tháng 6/2007. Hiện nay, trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, chúng ta có những thuận lợi, nhưng cũng không ít khó khăn.
Trong lĩnh vực nông nghiệp,
nông dân nước ta đang phải chịu áp lực cạnh tranh rất lớn do sản xuất
nông nghiệp của nước ta vẫn là nền sản xuất nhỏ, phân tán, lạc hậu,
năng suất và chất lượng thấp trong khi bình quân đất nông nghiệp theo
đầu người quá ít, giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 ha canh tác trung
bình ở mức 30 triệu đồng
Bên cạnh đó nông sản Việt Nam còn có
những hạn chế về chất lượng, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm; cách
thu hoạch, bảo quản, chế biến và còn ít thương hiệu mạnh. Trong tiến
trình hội nhập WTO, nhiều ưu đãi trong lĩnh vực nông nghiệp và các biện
pháp hỗ trợ xuất khẩu nông sản không phù hợp WTO đã và đang phải bãi
bỏ. Trong khi chúng ta vừa phải thích ứng với các hệ thống mới đang
hình thành thì thách thức cạnh tranh lại đến ngay trên sân nhà. Các mặt
hàng nông sản nước ngoài đã và đang xâm nhập thị trường trong nước, vì
vậy việc cạnh tranh với nông sản nước ngoài ở thị trường trong nước
cũng như cạnh tranh trong xuất khẩu sẽ ngày càng khó khăn hơn.
Hội
nhập sâu vào nền kinh tế thế giới của nền nông nghiệp đã và đang đặt ra
nhiều vấn đề bức xúc, cần có sự phối hợp căn cơ, đồng bộ của các nhà
hoạch định chính sách, các nhà quản lý, các doanh nghiệp và kể cả người
nông dân thì mới đảm bảo thành công. Nhiều chuyên gia cho rằng: Thắng
lợi hay thất bại trong tiến trình hội nhập WTO phụ thuộc vào tầm nhìn,
trước hết là tầm nhìn của các nhà hoạch định chính sách, các doanh
nghiệp và nhân tố then chốt là Người nông dân. Sự phát triển của ngành
nông nghiệp đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ và nhịp nhành giữa “Các nhà”.
Phải chăng, nền nông nghiệp và nông dân nước ta đang rất cần một cách
nhìn, một tầm nhìn mới, một nỗ lực rất lớn của Người nông dân?
Người
nông dân với vai trò là chủ thể trong sản xuất nông nghiệp cần phải chủ
động trong hội nhập mới có được thành công. Trước hết, nông dân phải
biết điểm mạnh, điểm yếu của mình trong điều kiện cụ thể ở từng địa
phương để từ đó, phát huy mặt mạnh, khắc phục yếu kém, tạo nên những
lợi thế so sánh, sản xuất ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao,
với khối lượng ngày càng lớn và chất lượng ổn định. Những tác động lớn
của việc gia nhập WTO đối với nông nghiệp Việt Nam đó là việc phải đối
mặt những tiêu chuẩn bắt buộc cao hơn về chất lượng, vệ sinh an toàn
thực phẩm của hàng nông sản; cạnh tranh thị trường trong nước và quốc
tế về chất lượng, giá cả ngày càng tăng. Hội nhập vào WTO, để tồn tại
và phát triển, không có cách nào khác là Người nông dân phải chủ động
tổ chức lại hệ thống sản xuất, thị trường và đặc biệt phải tạo ra được
những sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế được tuyển chọn ngay từ khâu đầu
tiên là lựa chọn giống, đến áp dụng kỹ thuật canh tác, bón phân, phòng
trừ sâu bệnh, thu hoạch, chế biến… Người nông dân cần phải biết rõ sản
phẩm của mình sẽ bán ở đâu, với phương thức thế nào, giá cả bao nhiêu,
yêu cầu chất lượng sản phẩm ra sao? Đây là vấn đề rất quan trọng, thiết
thực để nông dân chủ động trong hoạch định và tổ chức sản xuất. Muốn
vậy, đều tất yếu là nông dân cần phải được thông tin về dự báo tình
hình thị trường, được trang bị kiến thức về thị trường và những tiến bộ
kỹ thuật mới để từ đó áp dụng vào sản xuất. Người nông dân thời hội
nhập cần phải có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành tốt. Có kiến
thức sẽ giúp cho việc nắm bắt thông tin thị trường, thực hiện chuyển
đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chọn giống cây, con phù hợp và áp dụng
tốt tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và bảo quản, chế biến. Kết quả của
quá trình này sẽ làm cho năng suất tăng cao, chất lượng nông sản tốt;
phương pháp sơ chế đúng, bảo quản phù hợp sẽ giữ gìn và nâng cao chất
lượng sản phẩm của mình. Chúng ta cần phải trang bị cho nông dân những
kiến thức và kỹ năng để áp dụng mô hình sản xuất nông nghiệp tốt GAP
(Good Agricultural Practices). Đây là tiêu chuẩn mà nhiều nước yêu cầu
bắt buộc để nông sản có thể được phép nhập khẩu. Áp dụng GAP, nông dân
sẽ có được nông sản với chất lượng cao, giá bán cao hơn, đồng thời hạn
chế sử dụng hóa chất nhằm từng bước sản xuất ra sản phẩm sạch và góp
phần bảo vệ môi trường. Để hội nhập vào nền kinh tế thế giới, không còn
cách nào khác là chúng ta phải hỗ trợ để nông dân thay đổi tư duy sản
xuất nhỏ lẻ manh mún, áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng
sản phẩm, làm ra sản phẩm sạch để cạnh tranh trên thị trường.
Một
vấn đề rất quan trọng đối với nông dân thời hội nhập là cần phát huy
vai trò, trách nhiệm hơn nữa trong việc liên kết trong sản xuất để khắc
phục tình trạng bất cập: nhỏ lẻ, phân tán, chuyển đổi chậm, không đồng
bộ, chưa liên kết thành chuỗi đang diễn ra. Người nông dân cần tham gia
trong tiến trình đổi mới hợp tác xã nông nghiệp hiện nay và tiến tới
hình thành các doanh nghiệp nông nghiệp. Nông dân cần chủ động trong
hoạt động của hợp tác xã vì muốn sản xuất tốt trong cơ chế thị trường
thì phải cùng nhau hợp tác, tăng khả năng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật,
tăng năng lực sản xuất, khả năng vốn, tiêu thụ sản phẩm, để tăng tính
cạnh tranh cho sản phẩm của mình. Hợp tác xã cũng giúp Người nông dân
trong việc nắm bắt thông tin kịp thời về thị trường, kỹ thuật sản xuất…
Thông tin sẽ giúp nông dân mở rộng tầm nhìn, tự học và nghiên cứu để
nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu sản xuất trong cơ chế thị trường.
Bên cạnh đó, thông qua hợp tác xã và các mô hình liên kết sản xuất,
nông dân có thể được áp dụng chính sách tín dụng vay vốn… với phương
thức phù hợp để quyết định quy mô sản xuất của mình một cách có hiệu
quả. Nông dân cần phát huy khả năng của mình, thích ứng với kinh tế thị
trường, khai thác và phát huy các thế mạnh, vượt qua khó khăn, thách
thức, góp phần vào phát triển chung của đất nước.
Bên cạnh sự nỗ
lực của nông dân, vai trò của nhà nước là vô cùng quan trọng trong tiến
trình hội nhập kinh tế thế giới của nền nông nghiệp nước ta. Nhà nước
cần nhanh chóng hoàn thiện thể chế thị trường; thực hiện triệt để các
cải cách kinh tế và chính sách kinh tế xã hội quan trọng và xây dựng
được các chiến lược phát triển. Khoảng cách giữa thành thị và nông thôn
ở nước ta hiện nay đang còn xa. Vẫn còn nhiều hộ nông dân chưa thoát
khỏi đói nghèo. Những chăm sóc y tế, giáo dục, văn hoá… với bà con nông
dân vẫn còn phải nỗ lực lớn để vượt qua. Những điệp khúc “được mùa mất
giá” luôn thường trực trên đôi vai Người nông dân nước ta. Những hàng
rào kỹ thuật dựng lên ngày càng nhiều ở các nước khác đang là rào cản
đối với hàng nông sản xuất khẩu của chúng ta. Những điều này đòi hỏi
cần có một chiến lược đồng bộ từ khâu lập chính sách vĩ mô, sự phối hợp
giữa các ngành đến quy hoạch, đào tạo cho Người nông dân. Nhà nước cần
chủ động trong việc quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp, vùng
chuyển đổi sang công nghiệp, dịch vụ rõ ràng và mang tính dài hạn để
việc hoạch định kế hoạch sản xuất mang tính ổn định, lâu dài. Nếu có
được những định hướng đúng đắn và quy hoạch tổng thể xác định cơ cấy
cây trồng, vật nuôi phù hợp sẽ giúp cho Người nông dân chủ động trong
sản xuất, bố trí “Trồng cây gì, nuôi con gì” để không phải lo “được mùa
mất giá”. Nhà nước cần hỗ trợ Người nông dân trong đào tạo từ kiến thức
kỹ thuật trong sản xuất, tay nghỉ và kỹ năng chuyên môn đến kiến thức
về thị trường để họ có thể chủ động trong sản xuất và hội nhập thành
công.
Cùng với những chính sách của nhà nước, các đoàn thể,
các nhà khoa học, hiệp hội ngành nghỉ và các doanh nghiệp cần hỗ trợ
nông dân trong quá trình liên kết sản xuất và áp dụng các tiến bộ kỹ
thuật trong sản xuất. Cần thiết phải tổ chức lại sản xuất nông nghiệp,
tăng cường khuyến nông, đào tạo nghỉ cho nông dân. Khi nông dân đã liên
kết với nhau, Người nông dân dễ dàng tiếp cận được với tiến bộ kỹ thuật
mới, các giống cây trồng, vật tư, phân bón và biện pháp thâm canh mới
để từ đó nâng cao năng suất và chất lượng nông sản. Khi tạo thành tổ
liên kết sản xuất, hợp tác xã hay doanh nghiệp, Người nông dân sẽ có
được lợi thế cạnh tranh từ việc được các doanh nghiệp cung cấp các yếu
tố đầu vào như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật… với giá cả hợp
lý (vì mua với số lượng lớn). Họ cũng được lợi thế trong việc triển
khai sản xuất vì qui mô lớn sẽ giảm suất đầu tư và thuận lợi trong việc
tiêu thụ do có thể ký được hợp đồng trước với các doanh nghiệp. Kết quả
của quá trình này là nông dân có chi phí sản xuất thấp, năng suất cao,
sản lượng đủ lớn, chất lượng ổn định và đầu ra thuận lợi từ đó có đạt
hiệu quả cao.
Các đoàn thể, các doanh nghiệp và hiệp hội ngành
nghỉ phải cùng chung tay góp sức với nông dân trong việc xây dựng và
phát triển thương hiệu. Việc phối hợp tốt sẽ tránh được việc “Phát
triển thương hiệu nông sản kiểu làng, xã” hay “Cá thể” mà xây dựng
thương hiệu trên cơ sở vùng miền và quốc gia. Trong thực tế, “Thương
hiệu nông sản làng xã” chỉ thích ứng cho tiêu thụ nội địa với quy mô
nhỏ vì sản lượng không thể đủ lớn. Mặt khác, một khi nông sản nước ta
xuất ra thị trường quốc tế luôn có gắn kèm tên Việt Nam. Chẳng hạn
“Trái cây Thái Lan” hay “Trứng gà Trung Quốc” dù thương hiệu gì vẫn
được chỉ Người tiêu dùng Việt Nam coi là “Trái cây Thái Lan” hay “Trứng
gà Trung Quốc” mà thôi… Do vậy, dù tốt hay xấu, thương hiệu nông sản
kiểu “Làng xã” của Việt Nam khi xuất ra nước ngoài cũng sẽ được coi là
“Việt Nam” và ảnh hưởng đến chung cho cả ngành hàng. Chính vì vậy việc
xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia cho nông sản Việt Nam là
rất cần thiết. Bên cạnh đó, nhà nước và các hiệp hội ngành nghỉ cần xây
dựng và ban hành những qui định về điều kiện, tiêu chuẩn về kỹ thuật
sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng bắt buộc đối với nông sản Việt Nam để
đảm bảo rằng tất cả hàng nông sản Việt Nam khi xuất khẩu ra thế giới
đều đảm bảo tiêu chuẩn và không ảnh hưởng đến uy tín thương hiệu nông
sản quốc gia.
Trong thời gian qua, một số mô hình “Liên kết
bốn nhà” chưa thực sự phát huy được hiệu quả. Nguyên nhân của sự thiếu
hiệu quả đó có nhiều, nhưng trong đó vai trò của nhà nông, Người trực
tiếp làm ra nông sản hàng hóa cung cấp cho thị trường là chủ yếu. Với
sự manh mún về đất đai và tư liệu sản xuất cùng phương thức sản xuất
nhỏ lẻ, thói quen làm ăn đơn giản cộng đã ăn sâu vào tiềm thức của nông
dân là điều khó tạo nên một sự “đột phá” nên hiệu quả của mô hình liên
kết chưa cao. Để mối liên kết giữa bốn nhà thực sự bền vững và hiệu
quả, cùng với sự nỗ lực tham gia của các “Nhà” (Nhà nước, nhà kinh
doanh, nhà khoa học…) thì nhà quản lý có vai trò hết sức quan trọng.
Nếu các cơ quan này chủ động vào cuộc một cách tích cực để thực hiện
các biện pháp như: quy hoạch, dồn điền đổi thửa; định hướng chuyển dịch
cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp; Giới thiệu những mô hình sản xuất
mới hiệu quả cao… thì sự liên kết giữa các “nhà” mới có điều kiện phát
huy được hiệu quả và đem lại lợi ích cho Người nông dân cũng như cho xã
hội.
nền nông nghiệp nước nhà từ chỗ xuất phát điểm với lợi thế
cạnh tranh thấp cần được sự phối hợp đồng bộ và hỗ trợ tốt từ các “Nhà”
mới có thể đứng vững và phát triển trong giai đoạn hội nhập nền kinh tế
thế giới. Nếu Người nông dân tích cực, chủ động và được sự hỗ trợ, giúp
đỡ từ nhà nước, các đoàn thể, doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghỉ và toàn
xã hội thì chắc chắn quá trình hội nhập WTO của nông dân và nông nghiệp
Việt Nam sẽ thành công.
Admin (Theo komix.vn) |